Lịch sử trường Nguyễn Hữu Huân

Năm học 1962-1963:
Vì chưa có cơ sở vật chất, trường Trung học Thủ Đức phải “ở đậu” trường Nữ tiểu học, nay là trường tiểu học Nguyễn Trung Trực với 2 lớp Đệ Nhất.Năm học 1963-1964:
Trường tuyển thêm 3 lớp Đệ Thất ( 2 Thất Pháp văn và 1 Thất Anh văn). Sỉ số khỏang 230 học sinh. Trường trung học Thủ Đức mượn thêm trường Nữ tiểu học 2 phòng học ở sát cạnh bến xe lam và 1 căn xép nhỏ ngăn đôi : 1 dành làm văn phòng Hiệu trưởng và 1 dùng làm phòng giáo sư (theo tên gọi lúc bấy giờ).Năm học 1964-1965:
Trường phát triển dần với 2 lớp Đệ Ngũ, 3 lớp Đệ Lục và 4 lớp Đệ Thất, tống cộng 458 học sinh. Trong năm này có thêm giáo sư từ các tình chuyển về. Để đáp ứng nhu cầu, 2 phòng mới xây dựng thêm tại trường Nữ tiểu học và học sinh phải học 2 ca .Điều kiện học tập gia đọan này thật thảm hại, lớp học gần đường nên rất ồn. Vào những tháng mưa dầm, sân trường lầy lội, nếu có dông thì thầy trò, tập vở đều bị ướt.

Năm học 1965-1966:
Tiếp tục vượt khó, trường trung học Thủ Đức vươn lên mở thêm 2 lớp Đệ Tứ và nhận thêm 4 lớp Đệ Thất , tổng cộng 13 lớp với 700 học sinh. Với số lớp hiện hữu, phòng ốc không đủ cung ứng nên các lớp phải chia ra học ở 3 địa điểm: trường Nữ tiểu học, trường Nam tiểu học (nay là trường trung học cơ sở Lê Quý Đôn) và trường Bán Công. Có những lớp bất thường, 2 giờ học tại trường Nữ tiểu học, 2 giờ sau học tại trường Bán Công.

Năm học 1966-1967:
Dù chưa có cơ ngơi riêng, trung học Thủ Đức vẫn lớn mạnh với 3 lớp Đệ Tứ, 4 lớp Đệ Ngũ, 4 Đệ Lục và 4 Đệ Thất, tổng cộng 15 lớp với khỏang 800 học sinh và gần 20 giáo sư. Năm này thầy Cơ xin chuyển về Sài Gòn và thầy Hồ Văn Trai được cử làm hiệu trưởng chính thức của trường.
Khỏang thời gian này, Ban Doanh lý kiến thíêt làng Đại học Thủ Đức dồng ý cho Bộ giáo dục mướn một lô đất diện tích 15.000m2 với giá tượng trưng 1đồng/năm/m2 với thời hạn 99 năm, dùng làm cơ sở xây dựng trường trung học Thủ Đức, bước đầu có 5 phòng học theo chương trình ấp Tân Sinh. Trong năm này, trường vẫn phải học 3 nơi khác nhau, 2 lớp học tại trường Nữ, 4 lớp học tại trường Mới (tên gọi mà dân địa phương thường dùng lúc đó) và số còn lại học tại hai dãy phòng gỗ của trường Nam tiểu học.

Năm học 1967-1968:
Từ trường trung học Đệ Nhất với 4 lớp mỗi khối, trường mạnh dạn mở thêm 2 lớp Đệ Tam nâng tổng số lớp lên 18 với gần 1000 học sinh. Để đáp ứng nhu cầu sỉ số gia tăng , hội PHHS và một số vị ân nhân có nhiệt tâm với nền giáo dục đã vận động tích cực để xây dựng thêm phòng học cho năm này.
Cạnh 5 phòng học thuộc ấp Tân Sinh, 8 phòng học được xây mới, chia thành 2 dãy, mỗi dãy 4 phòng hướng mặt ra đường Hòang Diệu (nay là đường Võ Văn Ngân). Ngòai ra một hệ thống hàng rào kẽm gai được dựng nhằm bảo vệ trường và duy trì kỹ luật học đường. Về sau học sinh gọi đùa là vạn lý trường thành dây thép gai để chống lại nạn cowboy và hippi chọc phá.
Cũng trong năm này, một bảng hiệu mang tên trung Học Thủ Đức được dựng lên ngay cổng trường giáp với đường Đòan Kết làng Đại học. Chấm dứt thời kỳ “ăn gửi ở nhờ” nơi các trường khác, phấn khởi với ngôi trường mới, một phong trào sinh họat học đường vùng lên sôi nổi, thầy trò tham gia san lấp và làm cỏ sân trường vì nơi đây có nhiều gò mối, xây dựng bồn hoa và cột cờ . Cả trường tồ chức cắm trại, thi đua thể thao và làm bích báo.

Năm học 1968-1969:
Trường phát triển thêm với 2 lớp Đệ Nhị, 3 lớp Đệ Tam, 4 lớp Đệ Tứ, 4 lớp Đệ Lục, 5 Đệ Thất, tổng cộng có 22 lớp và khỏang 1200 học sinh. Sau thời kỳ khuếch trương phòng ốc, trường quay sang củng cố ban giảng huấn với 10 vị lúc đầu , nay tăng lên gần 30 vị.
Kỳ thi tú tài (học sinh Đệ Nhị thi tú tái 1, đậu mới được học tiếp Đệ Nhất để thi tú tài 2)năm này, học sinh trường Trung học Thủ Đức ra quân lần đầu đem về một kết quả đáng khích lệ, đạt tỷ lệ đậu 59% có một số đậu hạng Bình và Bình thứ. Đó cũng là nguồn động viên cho ban giảng huấn và tạo niềm tin trong giới phụ huynh.
Tuy nhiên vì thời cuộc, có sự biến động về nhân sự, một số giáo sư phải đi thụ huấn quân sự hoặc bị nhập ngũ hay tái ngũ, việc giảng dạy và kỹ luật nhà trường có phần giảm sút. Không vì vậy mà việc phát triển phòng ốc phải gián đọan. Khỏang cuối năm 1968, chương trình xây dựng và phát triển nông thôn yểm trợ cho trường 2 phòng , Bộ giáo dục cấp cho trường 4 phòng học được xây đối diện với 3 dãy cũ.

Năm học 1969-1970:
Tình trạng phòng ốc tương đối khả quan nên trường tiếp tục phát triển với 2 lớp Đệ Nhất, 2 lớp Đệ Nhị, 4 lớp Đệ Tam, 4 lớp Đệ Tứ, 5 lớp Đệ Ngũ, 7 lớp Đệ Lục, 7 lớp Đệ Thất, tổng cộng có 32 lớp với trên 1500 học sinh. Trong thời gian này trường xây thêm 3 phòng học nối tiếp với 4 phòng học của Bộ thành một dãy 7 lớp rất khang trang và đúng tiêu chuẩn. Các phòng này cho PHHS đóng góp xây dựng.
Một sự kiện đáng nhớ trong năm này là việc một phụ huynh là quân nhân vào hành hung thầy giám thị Hùynh Văn Thanh, tòan thể ban giảng huấn nghỉ dạy 3 ngày chờ cấp trên của quân nhân này trực tiếp giải quyết và xin lỗi mới tiếp tục dạy lại.

Năm học 1971-1972:
Theo đà phát triển bình thường trường có tổng cộng 39 lớp và gần 2000 học sinh. Thầy Nguyễn Văn Tâm được đề cử làm hiệu trường vào cuối năm học, đầu niên khóa 1971-1972 mới thực sự bắt tay vào việc.
Nhờ tuổi trẻ và nhiệt tình, thấy Tâm xây dựng nhìêu phong trào cho nhà trường: cắm trại, thi đua văn nghệ, ra Đạc san Xuân Nhâm Tý (1971-1972) lần đầu tiên được in hẳn hoi vì trước đó chỉ quay roneo, trồng cây tạo bóng mát, san ủi đường đi và sân tập thể dục, lập ban giáo sư hướng dẫn Khải đạo, lập thư viện và dự định biến cải trường Trung học Đệ Nhị cấp Thủ Đức thành một trường tổng hợp.
Đáng tiếc là thầy Nguyễn Văn Tâm sau đó bị ngưng chức.

Năm học 1973-1974:
Một ban giám đốc mới được đề cử: Hiệu trưởng thầy Trần Quang Tuấn, dưới có các thầy Võ Phá, Võ Thanh Sum, thầy Nguyễn Văn Phượng.
Cùng lúc tên trường Trung học Thủ Đức được đưa ra thảo luận rất sôi nổi tại hội đồng giáo sư nhà trường; thầy Tuấn rất tâm đắc với tác phẩm : “Mười điều tâm niệm” của Hòang Đạo nên quyết dịnh chọn danh hiệu này để sọan thảo ra “Mười điều nội quy của trường”. Trường đổi tên Trung học Hòang Đạo. Theo đà phát triển, số lớp tăng lên 43 với khỏang 2200 học sinh.
Cuối năm đó, vì thiếu sự nhất trí trong ban Giám đốc nên tòan ban đã từ chức.

Năm học 1974-1975:
Ban giám đốc mới được cử tới, trong đó thầy Nguyễn Văn Hanh làm hiệu trưởng.Đặc biệt cuối năm 1973-1974, đựơc sự hỗ trợ của PHHS cộng thêm ngân sách nhà nước, một dãy phòng gồm 4 phòng trệt và 4 phòng lầu được khẩn trương xây dựng , khép kín khuôn viên trường thành 4 dãy vuông vức bao quanh, tổng số lớp là 45:4 lớp 12, 6 lớp 11, từ lớp 10 đến lớp 6 mỗi khối 7 lớp với gần 2500 học sinh.
Chất lượng giảng dạy được nâng cao thêm một bước, ngòai những giáo sư cư trú tại địa phương, phần còn lại là những giáo sư lâu năm nhiều kinh nghiệm chuyển từ các tỉnh về giúp cho việc giảng dạy thêm đa dạng và phong phú, tạo được tiếng tốt, thu hút học sinh ở các vùng phụ cận như Gia Định, Dĩ An, Lái Thiêu, Biên Hòa…
Sau ngày 30-04-1975, sự kiện lịch sử trọng đại, trường Trung học Hòang Đạo cũng chuyển mình theo sự thay đổi của đất nước. Ban giám cũ được bình bầu lại .

Năm học 1975-1976:
Diễn ra trong bối cảnh hòan tòan mới. Việc dạy và học cũng thay đổi để phù hợp với cuộc sống mới.
Trước ngày 30/4/1975 trường Nguyễn Hữu Huân là trường trung học công lập lớn nhất của huyện Thủ Đức. Sau ngày 30/4/1975 đây cũng là trường cấp III có số lớp nhiều nhất so với các trường trong huyện Thủ Đức như trường Thủ Đức, Giồng Ông Tố, Thủ Thiêm.
Trước ngày khai giảng, trường trung học Hòang Đạo chuyển tòan bộ giáo viên cấp II (giáo sư trung học Đệ Nhất cấp) đến các trường cấp I, II khác trong huyện và nội thành đồng thời nhận đầy đủ giáo viên cấp III (giáo sư trung học Đệ Nhị cấp) của các trường trong huyện do quyết định của Phòng giáo dục huyện Thủ Đức cùng với một số giáo viên do Sở điều về. Trường giữ lại số lượng giáo viên cấp III và nhân viên của trường Trung học Hòang Đạo cũ.
Việc phân ban trong những năm đầu sau giải phóng cụ thể như sau:
• Ban A: Văn, Sử , Địa.
• Ban B: Văn, Ngọai ngữ.
• Ban C: Tóan, Lý.
• Ban D: Hóa, Sinh.
Đặc biệt trong nhà trường XHCN, học sinh tập thể dục giữa giờ.
Ở thư viện, các sách tiếng Anh, tiếng Pháp trừ những sách để dạy, tất cả đều phải hủy bỏ theo lệnh của thầy Hiệu trưởng. Tiếc nhất là bộ Bách khoa từ điển của Mỹ gồm 28 cuốn, mỗi cuốn dày độ bảy tám trăm trang. Ngày nay tìm đâu ra bộ từ điển đó!

Năm học 1976-1977:
Khai giảng ngày 01/10/1976
Năm học này trường còn lại 30 lớp với 1631 học sinh. Sở dĩ số lớp giảm xuống là vì phân tuyến lại, một số học sinh phải sang trường phổ thông cấp III Thủ Đức và chỉ tiêu chuyển vào lớp 10 là 9 lớp.
Đa số giáo viên ở nội thành đi lại khó khăn nên năm học 76-77 này có nhiều giáo viên xin thuyên chuyển về gần nơi cư trú. Vì vậy từ 103 giáo viên+CNV của năm 75-76, bây giờ còn lại 79 người.
Tóm lại, năm học 1976-1977, thầy trò trường Nguyễn Hữu Huân tích cực dạy tốt và học tốt. Năm này củng là năm mở đường cho những năm sau càng ngày càng tiến lên. Đặc biệt trong năm này nhà trường thành lập phòng truyền thống trỉnh bày đầy đủ họat động đấu tranh của nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Huân.

Năm học 1977-1978:
Ngày khai giảng :12/09/1977
Sỉ số học sinh trong năm học này là 26 lớp với 1343 học sinh. Số CBGV+CNV là 71 người.
Năm này trường thành lập phòng thí nghiệm nên học sinh bắt đầu làm thực hành sôi nổi hơn.
Tháng 05/1977, ban lao động tổ chức cho tòan thể học sinh trồng khoai lang những vùng đất trồng sau các dãy lớp học. Đầu năm học 1977-1978, học sinh thu hoạch 700 kg.
Tháng 03/1978 trường sinh ngữ ban đêm số 7 được thành lập, dạy vào các buổi tối thứ 3-5-7. Do thầy Nguyễn Trường Cửu làm hiệu trưởng. Trường bổ túc văn hóa dạy các tối thứ 2-4-6 do thầy Lê Văn Tấn làm hiệu trưởng.

Năm học 1978-1979 :
Khai giảng ngày 04/09/1978.
Năm học này đời sống giáo viên khó khăn : ăn độn cơm khoai, bột mì, với bo bo. Giáo viên làm đủ mọi nghề tay trái để kiếm sống : chăn nuôi, trồng trọt, buôn bán, làm công, làm thợ,…Đối diện với cuộc sống vô cùng khó khăn, nhà giáo vẫn kiên trì thể hiện thiên chức của người « kỹ sư tâm hồn ».
Thầy Nguyễn Trường Cửu, hiệu trưởng về hưu, Sở điều động thầy Nguyễn Khắc Trụ từ trường phổ thông cấp III Giồng Ông Tố về thay thế.
Sỉ số học sinh trong năm học 78-79 là 1307 chia ra làm 27 lớp với 1198 học sinh.

Năm học 1980-1981 :
Ngày khai giảng : 05/09/1980
Kỳ hè 1980, các giáo viên được nghỉ trọn vẹn, được đi phép hưởng phụ cấp tàu xe khi về thăm gia đình. Một số giáo viên miền Bắc nhân dịp này về thăm lại gia đình, bà con. Cuộc sống của giáo viên đã đỡ hơn trước.
Sỉ số trong năm học 1980-1981 chỉ còn 2 khối lớp 11 và 12 là còn phân ban. Khối 10 theo chương trỉnh cải cách giáo dục không phân ban. Tòan trường có 1553 học sinh với 32 lớp.
Về học tập, thi học sinh giỏi, đội tóan được giài nhất tòan thành với 2 học sinh Hà Quốc Văn và Đinh Hòang Thông được chọn vào đội tuyển thành phố.

Năm học 1981-1982 :
Ngày khai giảng :05/09/0981
Ban giám hiệu năm học này có thêm thầy Võ Văn Phú từ trường Công Nông 2 chuyển về.
• Hiệu trưởng : thầy Nguyễn Khắc Trụ
• Hiệu phó : thầy Lê Văn Tấn
• Hiệu phó điều hành quản trị : thầy Võ Văn Phú
• Hiệu phó lao động và văn thể mỹ : thầy Võ Tứ Xuyên
• Thư ký hội đồng đề cử : thầy Nguyễn Nhất Lang
Sỉ số trong năm học này chỉ còn khối 12 là phân ban, khối 11 và 10 theo chương trình cải cách giáo dục.
Trong năm này, ngày mùng 3 Tết năm Nhâm Tuất (1982), thấy Lê Văn Tấn đã chết đột ngột, để lại cho đồng nghiệp giáo viên và học sinh trường Nguyễn Hữu Huân sự thương tiếc khôn nguôi. Thầy vui vẻ, cởi mở, bộc trực, hòa đồng với mọi người nên được đồng nghiệp yêu mến và học sinh kính trọng.
Năm học 1982-1983 :
Năm học 1982-1983 có sự thay đổi lớn trong Ban giám hiệu. Thầy Nguyễn Khắc Trụ đổi về trường Vừa học vừa làm Thủ Đức, thầy Tấn mất, thầy Võ Tứ Xuyên đi học lớp cán bộ quản lý. Cô Nguyễn Thị Thu Ba, trưởng Phòng Giáo Dục Thủ Đức được điều về làm Hiệu trưởng trường Nguyễn Hữu Huân. Thầy Võ Văn Phú làm hiệu phó.
Tổng số học sinh trong năm học này là 1215 với 27 lớp.
Kết quả cuối năm tốt nghiệp đạt 95%

Năm học 1983-1984 :
Tổng số lớp năm học này là 32 với 1497 học sinh.
Trường sinh ngữ ban đêm đóng cửa từ năm 1979, đến năm học này mở lại, do cô Nguyễn Thị Thu Ba làm hiệu trưởng.

Năm học 1984-1985 :
Cô hiệu trưởng cho xây một phòng tài vụ nối liền dãy lớp học và phòng BGH. Ngòai ra cho đóng cót làm trần nhà 4 phòng học phía sau, nơi giáo viên thường nói đùa là lò bánh mì.
Sỉ số năm học 1984-1985 có 32 lớp với 1411 học sinh.
Lao động vệ sinh môi trường học đường có nhiều tiến bộ. Lao động công ích đào được 3000m đường thủy lợi. Ban thủy lợi bồi dưỡng 5000đồng, chia cho mỗi lớp 100đ để làm quỹ lớp.
`Đặc biệt trong năm học này Thi Tốt Nghiệp PTTH tại trường, được tổ chức vào ngày 25-26/05/1985. Chấm thi tại trường. Đây là năm đầu tiên cũng là năm cuối cùng thi và chấm thi tại trường.

Năm học 1985-1986 :
Đây là năm đầu tiên của Phân hiệu Nguyễn Hữu Huân ở Long Thạnh Mỹ. Phân hiệu này thu nhận học sinh tốt nghiệp cấp II các xã Long Bình, Long Phước, Long Thạnh Mỹ, Long Trường.
Đời sống giáo viên chịu ảnh hưởng của « giá-lương-tiền » nên vô củng khó khăn. Đầu tháng 10/1985, triển khai lương mới, tiếp theo là việc đổi tiền gây xáo trộn một thời.
Đặc biệt năm học này, nhà trường dạy nghề phổ thông.
Học sinh tham gia hội TDTT Phù Đổng đọat giải nhất 3 đội : đội bóng chuyền nam, đội bóng chuyển nữ và đội bóng đá nam.

Năm học 1986-1987 :
Sỉ số : kế họach của Sở duyệt lúc đầu là 35 lớp nhưng do điểm chuẩn thi vào lớp 10 xuống 7.5 nên số lớp lên 38 với tổng số học sinh là 1825.
Phong trào TDTT của trường đạt tiên tiến cấp thành phố. Những thành quả học tập đáng khích lệ : đội giỏi tóan khối 10 đạt hạng nhì TP ; thực hành khối 11 đạt hạng nhất TP.

Năm học 1987-1988 :
Thành phần BGH vẫn như cũ. Tòan trường và phân hiệu Long Thạnh Mỹ có 42 lớp với 2004 học sinh, trong đó hệ A là 1931 học sinh.
Phong trào TDTT sôi nổi, các đội bóng đá, bóng chuyền nam-nữ thi đấu giao hữu với các trường bạn.
Đặc biệt trong năm này có học sinh Trương Thị Mỹ Linh lớp 12A1 được vào đội tuyển học sinh giỏi ngọai ngữ của TP, được giải tòan quốc và được tuyển thẳng vào Đại học Sư Phạm.

Năm học 1988-1989 :
Tòan trường và phân hiệu có 39 lớp trong đó có 1 lớp hệ B, tổng cộng có 1864 học sinh.
Thời gian này đời sống giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, để cải thiện đời sống cho cán bộ giáo viên-công nhân viên trường, BGH đã cho xây dựng 6 gian hàng cho thuê ở mặt tiền đường Võ Văn Ngân với sự chấp thuận của Sở. Tiển xây dựng do người thuê đóng góp, do đó hợp đồng trong thời gian 6 năm kể từ 1989 đến 1995, lấy tiền thuê tượng trưng mỗi gian 100kg gạo/tháng.

Năm học 1989-1990 :
BGH trong năm học này có sự thay đổi . Cô Nguyễn Thị Thu Ba được Sở đề cử làm trưởng Phòng Giáo Dục huyện Thủ Đức.
• Thầy Nguyễn Nhứt Lang :hiệu trưởng.
• Thầy Võ Văn Phú : hiệu phó HCQT
• Cô Nguyễn Thị Nguyệt : phụ trách Phân hiệu Long Thạnh Mỹ.
Sỉ số tại trường chính Nguyễn Hữu Huân có 36 lớp với 1703 học sinh. Tại phân hiệu Long Thạnh Mỹ có 6 lớp với 250 học sinh hệ A.
Trong năm học này tổ Giám thị trường được hình thành, có biên chế và qui định rõ quyền hạn, nhiệm vụ. Trật tự kỷ luật của trường có tiến bộ rõ rệt. Việc xây dựng phòng đọc sách đã mang lại những hiệu quả tích cực trong việc ổn định trật tự kỷ luật trong nhà trường. Những tíếc giáo viên vắng, học sinh được hướng dẫn vào phòng đọc sách, tránh đi lảng vảng ngòai sân ảnh hưởng đến các lớp khác.
Các tiết thực hành ở các bộ môn : Lý, Hóa, Sinh được thực hiện đầy đủ, kể cả những lớp ở Long Thạnh Mỹ cũng về trường chính để thực hành thí nghiệm.
Trường tham gia đầy đủ các cuộc thi học sinh giỏi các môn Văn, Tóan, Lý, Hóa, Ngoại ngữ. Học sinh Đặng Thị Uyên Phương lớp 11N1 được 8.5 điểm, đạt giải nhất cá nhân và trường đạt giải ba đồng đội môn Nga lớp 11.

Năm học 1990-1991 :
Thành phần BGH gồm :
• Thầy Nguyễn Nhứt Lang : Hiệu trưởng.
• Thầy Phù Khí Toàn : Hiệu phó chuyên môn.
• Thầy Nguyễn Khắc Trụ : Hiệu phó HCQT
• Cô Nguyễn Thị Nguyệt : Hiệu phó đặc trách phân hiệu Long Thạnh Mỹ.
Sỉ số hệ A cả trường chính và phân hiệu là 33 lớp với 1382 học sinh ; hệ B có 5 lớp với 257 học sinh.
Năm học này học sinh lớp 10 học theo chương trình cải cách giáo dục. Năm học trước nữ sinh đã được động viên mặc áo dài trắng. Năm này việc mặc đồng phục áo dài trắng của nữ sinh đưa vào nội qui, góp phần không nhỏ trong việc giữ vững nề nếp và ổn định trật tự, kỉ luật của trường.
Học sinh cả 3 khối lớp tham gia thi học sinh giỏi các môn tự nhiên, ngoại ngữ và thực hành thí nghiệm. Học sinh Đặng Thị Uyên Phương lớp 12N1 năm nay được chọn vào đội tuyển của TP dự thi học sinh giỏi toàn quốc môn tiếng Nga và đạt được giải 3 toàn quốc. Ngày 22/05/1991, Uyên Phương được Bộ Giáo Dục & Đào Tạo công nhận đặt cách tốt nghiệp PTTH và triệu tập ra Hà Nội tham gia thi tuyển chọn đội tuyển quốc gia đi tham dự kỳ thi Quốc tế Olympic tiếng Nga tổ chức tại Nga.
Ngoài ra có Nguyễn Thị Hương Thủy lớp 11A3 và Nguyễn Văn Ba lớp 12A6 được học bổng « Vì nhân tài, tương lai đất nước ».
Cũng trong năm này trường cho xây dựng mới 1 cổng sau dành cho học sinh, xây dựng mới 2 nhà vệ sinh… Trường phân hiệu Long Thạnh Mỹ được làm một sân bóng chuyền…

Năm học 1991-1992 :
Bắt đầu từ năm học này trường phân hiệu Long Thạnh Mỹ được tách riêng thành trường Phổ thông cấp 2,3 Nguyễn Huệ. Cô Nguyễn Thị Nguyệt làm Hiệu trưởng trường này.
Tổng số lớp toàn trường là 34 với 1637 học sinh gồm 27 lớp hệ A và 7 lớp hệ B.

Năm học 1992-1993 :
Trường năm nay có 33 lớp gồm 25 lớp hệ A và 9 lớp hệ B, tổng số học sinh là 1561.
Ở Nam Bộ có 2 trường lấy tên nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Huân là trường PTTH Nguyễn Hữu Huân ở Thủ Đức và trường PTTH Thủ Khoa Huân tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, quê hương cụ Nguyễn Hữu Huân. Nhân lễ giỗ lần thứ 120 và lễ khánh thành đền thờ nhà thơ, nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Huân, chính quyển huyện Chợ Gạo có mời trường PTTH Nguyễn Hữu Huân đến dự.

Năm học 1993-1994 :
Đây là năm đầu tiên Bộ Giáo Dục & Đào Tạo thực hiện thí điểm phân ban. Tòan quốc có 14 trường thí điểm phân ban. Trường Nguyễn Hữu Huân được hân hạnh là một trong 14 trường phân ban đầu tiên.
Trong năm học này trường dạy theo 3 chương trình :
+Chương trình phân ban lớp 10 hệ A gồm 3 ban :A ( Khoa học tự nhiên)-B ( Khoa học tự nhiên – Kỹ Thuật)-C (Khoa học xã hội).
+Chương trình cải cách lớp 11,12 hệ A và hệ B.
+Chương trình Bổ túc văn hóa lớp 10 dành cho công nhân kỹ thuật may Thủ Đức.
Năm này trường có 26 lớp hệ A với 1116 học sinh và 11 lớp hệ B với 581 học sinh.

Năm học 1994-1995:
Trường có 26 lớp hệ A với 1157 học sinh và 18 lớp hệ B, với 944 học sinh. Tổng cộng 44 lớp với sỉ số 2099.

Năm học 1995-1996:
Học sinh chuyên ban phải học môn Kỹ Thuật Ứng Dụng, đây là môn học bắt buộc.Trường dạy nghề: thêu, may gia dụng, may công nghiệp, dinh dưỡng, mộc, sửa chữa xe gắn máy, điện gia dụng, điện tử, đánh máy chữ, kế tóan , tin học.

Năm học 1996-1997:
Vừa khai giảng được nửa tháng thì BGH có sự thay đổi. Thầy Nguyễn Khắc Trụ và thầy Phù Khí Tòan thôi giữ chức vụ Hiệu phó. Thay vào đó là thầy Nguyễn Thế Quân và thầy Lê Quang Tuyến.
Năm nay trường cho xây nối các dãy lớp học và từ Hội trường sang phòng hành chánh.

Năm học 1997-1998:
Một sự việc đáng tiếc xảy ra, cô Nguyễn Thị Tuyết Mai, nhân viên thư viện, đã biển thủ số tiền mua sách của nhà trường gần 10 triệu đồng. Lợi dụng sự tín nhiệm của trường sinh ngữ ban đêm, thu tiền học viên và lấy nhiều năm, ngót gần trăm triệu, úp ba dây hụi ở trường, chiếm đọat của CBGV-CNV lên tới 190 triệu. Cô Mai đã bị đưa ra hội đổng kỷ luật buộc thôi việc và truy tố ra pháp luật. Sau đó tòa kêu án 6 năm tù.
Trong hè năm 1998, nhà trừơng và Hội PHHS đã phối hợp thực hiện một số công trỉnh. Bêtông hóa sân trường, trước kia thường được gọi đùa là sa mạc Sahara.
Với kinh phí của Sở, nhà trường đã xây dựn hàng rào ở sân thể dục và sửa chữa phòng thể dục. Ngòai ra còn sửa chữa lại Hội trường và phòng Sinh vật.

Năm học 1998-1999:
Năm học bắt đầu áp dụng chương trình phân ban từ lớp 10 theo phương pháp cuốn chiếu.

Năm học 1999-2000:
Năm học 1999-2000 là năm học cuối cùng của lớp 12 theo chương trỉnh phân ban. Các lớp 10 và 11 học theo chương trỉnh cải cách giáo dục.
Nhiệm vụ dạy tốt và học tốt là nhiệm vụ chính của trường. Giáo viên đầu tư công sức nhiều vào công tác giảng dạy nhưng kết quả cuối năm thi Tốt nghiệp có 323 học sinh và đậu 236 học sinh, tỉ lệ 73.7%. Một kết quả kém từ trước tới nay.
Ngày 24 Tết, tức 30/01/2000, cô ĐặngThị Trúc Duyên đã mất trong khi sinh. Cô là giáo viên giỏi được trò yêu, đồng nghiệp quí. Đây là nỗi đau lớn của gia đình và nhà trường.

Năm học 2000-2001:
Đây là năm học hòan tòan theo chương trình cải cách cả hai hệ công lập và bán công. Năm học này học sinh thi Tốt nghiệp theo chương trình cải cách.
BGH trong năm học này có sự thay đổi. Thầy hiệu phó Lê Quang Tuyến về hưu.
Năm này có 6 học sinh lớp 10 và 11 đạt giải Olympic, 2 hs đạt giải Hòang Gia Úc môn Hóa.
Trong năm này số học sinh thi đậu Tốt nghiệp chiếm tỉ lệ 84.99%. So với năm trước đã tăng lên gần 12%.
“Nhân vô thập tòan”, làm nhiều thế nào cũng có thíêu sót. Những đơn thư khiếu tố, khiếu nại về việc làm sân trường đến nay vẫn còn lời ra tiếng vào.

Năm học 2001-2002:
Từ tháng 8/2001, có một sự thay đổi tòan bộ trong BGH cũ: thầy Nguyễn Nhứt Lang, hiệu trưởng, được điều về Sở Giáo dục TP; thầy Nguyễn Thế Quân, hiệu phó, được đổi về trường PTTH Phước Long, quận 9. Thay vào đó là thành phần BGH mới, trẻ, đầy nhiệt tình năng nổ:
• Thầy Đào Văn Lợi : Hiệu trưởng.
• Thầy Lâm Triều Nghi: Hiệu phó chuyên môn.
• Thầy Trần Văn Đức: Phó hiệu trưởng HCQT.
Sau khi thầy Hiệu trưởng mới nhận bàn giao chức vụ được 3 tháng, trường đã có sự “thay da đổi thịt”. Các phòng được sắp xếp sửa chữa lại cho khoa học hơn. Phòng Lab được trang bị các máy vi tính hiện đại thay thế tòan bộ những máy đã quá thời gian sử dụng.
Từ trước, học sinh hai hệ công lập và bán công mang phù hiệu khác nhau để dễ phân biệt. Một điều mới mẻ ở đây là thầy hiệu trưởng cho học sinh cà 2 hệ cùng mang một lọai phù hiệu, xóa bỏ mặc cảm tự ti của các học sinh bán công.
Kể từ năm này, trường PTTH Nguyễn Hữu Huân đã bắt đẩu vươn lên để cố gắng sánh kịp với các trường “đại gia” ở thành phố như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Quý Đôn, Bùi Thị Xuân, Gia Định…
Kết quả học tập của năm học 2001-2002 rất đáng phấn khởi:
• Thi học sinh giỏi lớp 12 đạt 14 hs.
• Học sinh khối 10,11 đạt giải Olympic 11 hs.
• Đạt giải Hòang Gia Úc môn Hóa 11 hs.
• Số học sinh tốt nghiệp đạt tỉ lệ 92.31%
• Thủ khoa Đại học 1 hs.
• Trường có số hs đậu Đại học cao, nằm trong mười trường đứng đầu TP.
BGH nhận thấy cần phải xây dựng một ngôi trường khang trang, bề thế đáp ứng sự phát triển hs ngày càng tăng. Thầy hiệu trưởng đứng ra xin xây dựng lại trường. Ngày 03/09/2003 trường PTTH Nguyễn Hữu Huân được khời công xây dựng lại.

Năm học 2002-2003:
Cuộc sống giáo viên đã ổn định. Phong trào dạy tốt, học tốt lên cao.
Kết quả dạy và học năm học 2002-2003 rất đáng tự hào.
• Thi học sinh giỏi lớp 12 cấp TP đạt 26 hs.
• Học sinh khối 10,11 đạt giải Olympic 16 hs.
• Giải Hòang Gia Úc môn Hóa là 16 hs.
• Tỉ lệ tốt nghiệp đạt 95.48%, một con số rất đáng phấn khởi.
• Đặc biệt trong năm này, cả lớp 12A1 đều đậu Đại học. Trong lớp này có 3 học sinh đạt thủ khoa 3 trường Đại học:
• Lê Vũ Lâm: thủ khoa ĐH Bách Khoa.
• Đặng Thế Nhân : thủ khoa ĐH Sư Phạm (khoa Tóan).
• Nguyễn Thị Hồng Vân : thủ khoa ĐH Đà Lạt.
Đây là năm huy hòang nhất của trường về số lượng hs tốt nghiệp và đậu ĐH. Về số lượng hs đậu ĐH, trường Nguyễn Hữu Huân nằm trong “topten” trường có số học sinh đậu ĐH cao nhất TP.

Năm học 2004-2005:
Năm nay thành phần BGH có sự thay đổi. Thầy hiệu phó Trần Văn Đức được điều về làm Hiệu trưởng trường THPT Long Trường, quận 9. BGH bổ sung thầy Huỳnh Phú Cường vào vị trí này.
Năm học 2004-2005 là năm có tỉ lệ đậu ĐH cao nhất: 38.85%

Năm học 2007-2008:
Thầy Lâm Triều Nghi lên làm Hiệu Trưởng thay cho thầy Đào Văn Lợi (tháng 12-2007)
Thầy Nguyễn Hải Anh, tổ trưởng tổ toán được đề bạt Phó hiệu trưởng (tháng 5-2008)
Tỉ lệ tốt nghiệp: 99,87 %
Tỉ lệ đậu đại học (Nguyện vọng 1): 46,76 %

Năm học 2008 – 2009
Tỉ lệ tốt nghiệp: 98,72 %
Tỉ lệ đậu đại học (Nguyện vọng 1): 57,99 %
Đặc biệt có 4 thủ khoa đại học – cao đẳng:
1. Bùi Thị Song Hạnh – 12A1 – Thủ khoa Đại học Y khoa TpHCM – 29.5
2. Bùi Bách Đạt – 12A3 – Thủ khoa đại học Công nghệ thông tin – ĐHQG TpHCM-27
3. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – 12A1 – Thủ khoa Cao đẳng Tài chính hải quan – 29
4. Trần Võ Thanh Bình – 12A3 – Thủ khoa Cao đẳng Công Thương – 28.5

Năm học 2009 – 2010:
Trường được bổ sung 1 phó hiệu trưởng: thầy Vũ Anh Tuấn – nguyên là tổ trưởng tổ tin, phó chủ tịch công đoàn của trường THPT Phan Đăng Lưu

Explore posts in the same categories: Uncategorized

One Comment on “Lịch sử trường Nguyễn Hữu Huân”

  1. Thùy Says:

    30-4-1975 tụi mình đang học lớp 4 , các anh chị lớp trên phải thi từ lớp 5 lên lớp 6 , từ Tiểu học lên Trung học vào lớp Đệ Thất là 1 kỳ thi khá quan trọng thời đó , ai vào được Đệ Thất trường công là niềm tự hào của cha mẹ . Đến năm 1976 Nhà Nước cải cách không phải thi từ lớp 5 lên lớp 6 nữa , khóa tụi mình không phải thi mà được vô thẳng lớp 6 , là 1 cái hên thứ nhất .

    Đến lớp 9 khóa tụi mình không phải thi Tốt nghiệp cấp 2 mà tụi đàn em lớp dưới lại bị , là cái hên thứ 2 .

    Phải qua 1 trong 2 kỳ thi này chắc tụi mình tiêu đời nhà ma hết 1 mớ rồi .

    Lúc nhập học lớp 10 , Trường mình còn chia ban , ban C là Toán Lý , lớp 10C ban Toán Lý dành cho những trò đậu điểm Toán cao , sau đó Nhà Nước cải cách , bỏ ban , chia thành 2 khối A là Anh văn và P là Pháp văn , các anh chị lớp trên vẫn học theo ban ABCD . Lớp 10C đổi thành lớp 10A1 , Phong và Thùy cũng học lớp 10C được 1 tuần hay 1 tháng gì đó rồi bị (hay được) đẩy qua 10A4 .

    Lớp 10 tụi mình gồm :
    7 lớp Anh , từ 10A1 đến 10A7 ; 10A1 đến 10A4 học buổi sáng ; 10A5 đến 10A7 học buổi chiều .
    5 lớp Pháp , từ 10P1 đến 10P5 ; 10P1 đến 10P3 học buổi sáng ; 10P4 , 10P5 học buổi chiều .
    Lên lớp 11 , các lớp A vắng bớt học sinh nên Nhà Trường giải tán 10A7 , phân bố 10A7 vào 6 lớp A còn lại .

    Lớp 10A1 nhân tài nhiều như lá mùa thu , các tay học giỏi đều tụ tập về đây , cũng là lớp có học sinh đậu Đại học nhiều nhất trong khối , khoảng trên 1/2 lớp .

    A1 có Đỗ Kế Chí , Minh Tâm , Thanh Trúc …
    A2 có Thùy Hương
    A3 có Lê Hiền Anh Tuấn , Trần Tuấn Bách Khoa
    A4 có Nguyễn Anh Phong , Nghiêm Minh , Hoài Nam .
    P1 có Bảo (con cô Tâm) , Huỳnh Thị Thu Thảo
    Các bạn nhớ ai trong lớp mình học giỏi thì thêm vô nhé .


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


%d bloggers like this: